Chủ yếu có bốn loại sốc: Sốc do giãn mạch ngoại biên (sốc phân bố), sốc giảm thể tích, sốc tim và sốc tắc nghẽn. Bên cạnh đó, sốc không phân biệt được có nghĩa là chẩn đoán sốc đã được thực hiện; tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản vẫn chưa được phát hiện và gọi là sốc chưa rõ nguyên nhân.
Sốc do giãn mạch ngoại biên (sốc phân bố)
Các loại sốc này bao gồm:
Sốc nhiễm trùng: Nhiễm trùng huyết được hiểu là tình trạng rối loạn chức năng cơ quan đe dọa tính mạng do rối loạn điều hòa phản ứng của cơ thể đối với sự nhiễm trùng. Sốc nhiễm trùng là một phần của nhiễm trùng huyết với các bất thường nghiêm trọng về tuần hoàn, tế bào và chuyển hóa dẫn đến giảm tưới máu mô biểu hiện là hạ huyết áp, cần điều trị bằng thuốc vận mạch và tăng nồng độ lactate (hơn 2 mmol/L). Nguyên nhân dẫn đến sốc nhiễm trùng là cơ thể bị nhiễm vi khuẩn như vi khuẩn gram dương, gram âm, viêm phổi do liên cầu khuẩn, Enterococcus…
Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống: Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS) là một hội chứng lâm sàng của phản ứng viêm mạnh do nguyên nhân nhiễm trùng hoặc không nhiễm trùng. Các nguyên nhân truyền nhiễm bao gồm các mầm bệnh như vi khuẩn gram dương (phổ biến nhất) và gram âm, nấm, nhiễm virus (ví dụ virus đường hô hấp), ký sinh trùng (ví dụ sốt rét). Các nguyên nhân không nhiễm trùng của SIRS bao gồm viêm tụy, bỏng, tắc mạch mỡ, tắc mạch không khí và tắc mạch nước ối…
Sốc phản vệ: Sốc phản vệ là hội chứng lâm sàng của phản ứng quá mẫn nặng qua trung gian immunoglobulin E (Ig-E), dẫn đến trụy tim mạch và suy hô hấp do co thắt phế quản. Phản ứng quá mẫn ngay lập tức có thể xảy ra trong vòng vài giây đến vài phút sau khi xuất hiện kháng nguyên kích động. Các chất gây dị ứng phổ biến bao gồm thuốc (ví dụ như kháng sinh, NSAID), thức ăn, vết côn trùng đốt và mủ cao su.
Sốc thần kinh: Sốc thần kinh có thể xảy ra do chấn thương tủy sống hoặc não. Cơ chế cơ bản là giảm sức cản mạch máu và thay đổi trương lực phế vị.
Sốc nội tiết: Do các nguyên nhân nội tiết tiềm ẩn như suy thượng thận (bệnh lý Addison) và phù niêm.
Nhiễm trùng huyết có thể dẫn đến sốc
Sốc giảm thể tích
Sốc giảm thể tích được đặc trưng bởi giảm thể tích nội mạch và tăng thể tích tĩnh mạch hệ thống (cơ chế bù trừ để duy trì tưới máu trong giai đoạn đầu của sốc). Ở giai đoạn sau của sốc do giảm thể tích dần dần, cung lượng tim cũng giảm và biểu hiện là hạ huyết áp. Sốc giảm thể tích được chia thành hai loại lớn: Xuất huyết và không xuất huyết.
Các nguyên nhân phổ biến gây sốc giảm thể tích xuất huyết bao gồm:
Chảy máu tiêu hóa (xuất huyết cả đường tiêu hóa trên và dưới, ví dụ chảy máu do giãn tĩnh mạch, chảy máu dạ dày do tăng huyết áp cửa, loét dạ dày tá tràng, bệnh túi thừa)… Nguyên nhân mạch máu (ví dụ, rò động mạch chủ, vỡ phình động mạch chủ bụng, khối u ăn mòn vào mạch máu lớn).
Chảy máu tự phát khi sử dụng thuốc chống đông máu.
Các nguyên nhân phổ biến của sốc giảm thể tích không xuất huyết bao gồm:
Mất 1 phần dạ dày/ruột: Gây nôn mửa, tiêu chảy...
Mất thận, tình trạng lợi tiểu do thuốc, rối loạn nội tiết như giảm aldosteron.
Mất da, bệnh lý da-mô mềm: Bỏng, hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử biểu bì nhiễm độc, say nắng, sốt.
Nguyên nhân sốc tim là do giảm cung lượng tim và giảm tưới máu hệ thống. Các loại nguyên nhân khác nhau góp phần gây sốc tim bao gồm:
Bệnh cơ tim, bao gồm nhồi máu cơ tim cấp tính ảnh hưởng đến hơn 40% tâm thất trái, nhồi máu cơ tim cấp tính trong bệnh động mạch vành, nhồi máu cơ tim thất phải, bệnh cơ tim giãn nở tối cấp, ngừng tim (do cơ tim choáng váng), viêm cơ tim.
Rối loạn nhịp tim: Cả nhịp tim nhanh và nhịp tim chậm
Suy động mạch chủ nặng, suy van hai lá nặng hoặc chấn thương dây chằng do vỡ phình động mạch thành tự do tâm thất.
Sốc tắc nghẽn
Chủ yếu do nguyên nhân ngoài tim dẫn đến giảm cung lượng tim thất trái:
Mạch máu phổi: Do lưu lượng máu từ tim phải sang tim trái bị suy giảm bao gồm thuyên tắc phổi có ý nghĩa về mặt huyết động, tăng huyết áp phổi nặng.
Suy giảm chức năng của tim phải hoặc do giảm lượng máu tĩnh mạch trở về tim phải do bị chèn ép từ bên ngoài. Ví dụ bao gồm tràn khí màng phổi căng thẳng, chèn ép màng ngoài tim, bệnh cơ tim hạn chế, viêm màng ngoài tim co thắt.