Án treo và cải tạo không giam giữ hình phạt nào nặng hơn?

1. Ý nghĩa của việc phân biệt án treo và cải tạo không giam giữ:

1.1. Khái quát về hệ thống hình phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam:

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015, áp dụng đối với người phạm tội nhằm trừng trị đối với hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục, cải tạo người phạm tội và phòng ngừa chung trong xã hội. Theo Điều 32 Bộ luật Hình sự năm 2015, hệ thống hình phạt bao gồm các hình phạt chính (tử hình, tù có thời hạn, cải tạo không giam giữ, cảnh cáo, phạt tiền, trục xuất) và các hình phạt bổ sung (cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân hoặc tịch thu tài sản…).

Trong đó, án treo và cải tạo không giam giữ đều là các hình thức thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự, hướng đến người phạm tội có nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo mà không cần cách ly khỏi xã hội. Tuy nhiên, 02 hình thức này không đồng nhất về bản chất pháp lý, điều kiện áp dụng và hậu quả pháp lý, dẫn đến nhiều nhầm lẫn trong nhận thức và thực tiễn xét xử.

1.2. Vì sao cần phân biệt giữa án treo và cải tạo không giam giữ:

Thực tế cho thấy, nhiều người lầm tưởng rằng án treo và cải tạo không giam giữ là “hai hình phạt nhẹ như nhau” bởi cả hai đều không phải chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên dưới góc độ pháp lý, đây là hai chế định hoàn toàn khác nhau:

Việc phân biệt rõ hai hình thức này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với cơ quan tiến hành tố tụng mà còn đối với người phạm tội và xã hội:

1.3. Tính thực tiễn của vấn đề trong xét xử và thi hành án:

Trong quá trình xét xử các vụ án hình sự, việc lựa chọn áp dụng hình phạt tù, án treo hay cải tạo không giam giữ là một trong những vấn đề được Hội đồng xét xử cân nhắc kỹ lưỡng. Một số trường hợp, người phạm tội bị tuyên phạt tù nhưng được hưởng án treo; ở trường hợp khác thì Tòa án lại áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ. Từ đó nhiều người đặt ra câu hỏi: Án treo và cải tạo không giam giữ thì hình phạt nào nặng hơn?

Vấn đề này không chỉ mang ý nghĩa lý luận trong khoa học luật hình sự mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc trong hoạt động xét xử và thi hành án.Bởi lẽ, việc xác định tính chất và mức độ nghiêm khắc của hai hình phạt giúp:

Án treo và cải tạo không giam giữ hình phạt nào nặng hơn?

2. Án treo và cải tạo không giam giữ có giống nhau không?

Nội dung Án treo Cải tạo không giam giữ Khái niệm Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù. Cải tạo không giam giữ là một trong các hình phạt chính đối với người phạm tội được quy định tại Điều 32 BLHS. Hình phạt cải tạo không giam giữ nhằm tạo điều kiện cho người bị phạt cải tạo không giam giữ được lao động, học tập tại cộng đồng và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường. Điều kiện áp dụng Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

(Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, được sửa đổi bổ sung theo khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP).

Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật Hình sự quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Các trường hợp không được áp dụng

Gồm các trường hợp sau:

+ Người phạm tội là người dưới 18 tuổi;

+ Người phạm tội bị xét xử và kết án về 02 tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể.

+ Người phạm tội là người dưới 18 tuổi;

+ Các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng;

+ Các lần phạm tội, người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể;

+ Các lần phạm tội do người phạm tội tự thú.

(Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, được sửa đổi bổ sung theo khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP)

Không có quy định cụ thể. Hình phạt bổ sung

Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này. Như:

Chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại (nếu có).

Giữa “Án treo” và “Cải tạo không giam giữ” đều giống nhau là: Người thụ án không phải cách ly khỏi xã hội mà họ được chung sống với gia đình như những người khác dưới sự giám sát của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương nơi người đó làm việc hoặc cư trú. Tuy nhiên, “án treo” là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện và có quy định về thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo phạm tội mới thì phải chuyển hình phạt tù giam nên nặng hơn hình phạt “Cải tạo không giam giữ”. Vì vậy, thiết nghĩ cần phải đưa ra những điều kiện để được áp dụng hình phạt “cải tạo không giam giữ” khắt khe hơn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội ít hơn so với “án treo”.

3. Án treo và cải tạo không giam giữ hình phạt nào nặng hơn?

3.1. Tiêu chí xác định hình phạt nặng hơn theo pháp luật hình sự:

Trong khoa học luật hình sự, “hình phạt nặng hơn” hay “nhẹ hơn” không chỉ được đánh giá bằng cảm quan xã hội mà phải căn cứ vào tính chất pháp lý, hậu quả pháp lý, mức độ hạn chế quyền tự do và quyền công dân của người bị kết án.

Theo Điều 32 Bộ luật Hình sự năm 2015, hình phạt được phân chia theo thứ bậc nghiêm khắc. Trong đó hình phạt tù là nặng hơn cải tạo không giam giữ, còn cải tạo không giam giữ lại nặng hơn phạt tiền và cảnh cáo. Như vậy, khi xét giữa án treo (không phải là hình phạt) và cải tạo không giam giữ (một hình phạt chính) cần đánh giá trên 03 tiêu chí chính:

3.2. Cải tạo không giam giữ - hình phạt chính, có tính ràng buộc về nghĩa vụ lao động và thu nhập:

Cải tạo không giam giữ được quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015 là một hình phạt chính áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo mà không cần cách ly khỏi xã hội. Cụ thể, Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015 nêu rõ:

“Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.”

Như vậy, người bị phạt cải tạo không giam giữ:

Do đó, xét về mức độ ràng buộc và hậu quả pháp lý thì cải tạo không giam giữ là hình phạt có tính nghiêm khắc nhất định, chỉ đứng sau hình phạt tù trong nhóm các hình phạt không tước tự do.

3.3. Án treo - biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện:

Ngược lại, án treo được quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 và không phải là một loại hình phạt mà là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện; được áp dụng khi người phạm tội bị xử phạt tù không quá 03 năm, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và xét thấy không cần bắt buộc chấp hành án phạt tù.Cụ thể, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:

“Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.”

Người được hưởng án treo không phải chấp hành hình phạt tù, nhưng phải chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương trong thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách người đó vi phạm nghĩa vụ hoặc phạm tội mới thì Tòa án có thể hủy án treo và buộc họ phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên.

Điều này cho thấy, án treo có tính nhân đạo và khoan hồng cao hơn:

Tuy nhiên, án treo vẫn là hình thức thử thách nghiêm ngặt bởi chỉ cần một sai phạm nhỏ trong thời gian thử thách, hình phạt tù sẽ được kích hoạt lại và người đó phải chấp hành toàn bộ thời hạn tù đã tuyên.

3.4. Đánh giá mức độ nghiêm khắc giữa án treo và cải tạo không giam giữ:

Theo quan điểm của chúng tôi, án treo thường được xem là nhẹ hơn khi so sánh với cải tạo không giam giữ bởi:

Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể thì án treo lại có thể bị xem là nghiêm khắc hơn so với cải tạo không giam giữ, nếu người được hưởng án treo có thời gian thử thách dài (đến 05 năm) và phải chịu sự giám sát chặt chẽ; trong khi người bị phạt cải tạo không giam giữ chỉ chịu thi hành án tối đa 03 năm và có thể được rút ngắn thời hạn cải tạo.

Ngoài ra, nếu người hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ hoặc phạm tội mới, hình phạt tù bị kích hoạt lại khiến hậu quả pháp lý nghiêm trọng hơn rất nhiều so với người bị phạt cải tạo không giam giữ. Vì vậy, việc đánh giá “nặng hay nhẹ” phải được xem xét toàn diện trên cả phương diện pháp lý và thực tiễn áp dụng mà không thể chỉ dựa trên quan điểm cảm tính.

Link nội dung: https://aicschool.edu.vn/cai-tao-khong-giam-giu-va-an-treo-a110526.html