(Tình cờ tìm thấy vài cuốn Kiến Thức Ngày Nay đã củ, bên trong có một số bài viết thật đáng để tìm đọc. Xin cám ơn Gs Ts. Trần Văn Khê cùng Kiến Thức Ngày Nay và xin được chia sẻ bài viết này để hy vọng có nhiều người hơn nữa cùng được đọc. Các hình trong bài do tôi tải từ các trang mạng, xin cám ơn các tác giả. Phan Bá Lương).
Gs Ts. Trần Văn Khê
[Kiến thức ngày nay số 226 - 1/11/1996]
Năm 1953, trong khi soạn luận án về âm nhạc truyền thống Việt Nam, tôi được đọc bài của ông Maurice Courant viết về nhạc Trung Quốc, để đối chiếu. Bàn về tiết tấu, tác giả viết: “Khổng Tử nói rằng: “Nhạc giả dã, tiết dã”. Tức là âm nhạc là tiết tấu, là nhịp điệu. Tiếp theo là một đoạn Khổng Tử giảng thêm: “Tiết tấu là gì? Khi người xưa hát lên một âm, thì chuông và khánh đánh mỗi thứ một tiếng, gợi lên hình ảnh của hai nguyên tắc âm và dương. Trong khi đánh mỗi tiếng chuông có 4 tiếng phách bảng, chia ra làm 4 tiếng mạnh, 4 tiếng nhẹ - nói theo ta thì 4 nhịp, 4 lái, gợi lên hình ảnh của bát quái”.
Ông Maurice Courant còn ký âm một bài nhạc cho cổ cầm mà ông ghi rằng: “Bản nhạc này tên là “U lan” theo tương truyền do Khổng Tử sáng tác”.
Năm 1956, tại hội chợ Paris, tôi qua gian hàng của Trung Quốc xem triển lãm và mua được một đĩa hát, trong đó có diễn tấu cổ cầm bài U lan do Quảng Bình Hồ trình bày.
Tôi đem việc ấy trình lại Giáo sư Emile Gaspardone, một trong ba vị thầy hướng dẫn tôi viết luận án tiến sĩ về nhạc truyền thống Việt Nam. Thầy cười nói: “Tôi cũng chỉ biết qua rằng trong Ngũ Kinh có Kinh Lễ và một chương lớn về nhạc tên là Nhạc ký. Nhưng tôi chưa biết Khổng Tử giỏi nhạc đến đâu. Nếu anh có thì giờ và muốn nghiên cứu thì tôi chỉ cho vài quyển sách để đọc. Rồi anh sẽ viết một bài khảo luận về Khổng tử và âm nhạc, tôi sẽ nhận làm luận đề bổ túc cho luận án Tiến sĩ của anh”. Tôi cám ơn thầy và đọc các sách do thầy giới thiệu.
Năm 1957, tôi trình cho thầy xem bản thảo bài “Không Tử và âm nhạc”. Bảo vệ luận án và các luận đề bổ túc xong, tám năm sau bài viết trên được đăng trong tạp chí “France Asie/Asia” sản xuất tại Nhật Bản, số 183, mùa xuân năm 1966. Dưới đây là các luận điểm chính của bài viết đó:
Khổng Tử là một nhạc công biết đàn cổ cầm, đàn sắt, đàn biên khánh, thổi ống sanh và biết ca.
Có lẽ tôi phải tả sơ lược các nhạc khí ấy để các bạn có dịp biết qua nhạc khí Trung Quốc thời thượng cổ.
Theo tương truyền, đàn cầm do vua Phục Hy, một trong tam hoàng (Phục Hy, Thần Nông, Huỳnh Đế), chế tạo trong thời kỳ khuyết sử của Trung Quốc. Người ta phỏng đoán vua Phục Hy sống vào khoảng năm 3000 trước Tây lịch. Ngài chọn cây ngô đồng để đóng đàn, vì cây ngô đồng là nơi chim phụng đậu. Mặt đàn hơi cong như vòm trời. Đáy đàn thẳng như mặt đất vì người Trung Hoa ngày xưa nghĩ rằng trái đất bằng phẳng. Bề dài 3 xích, 6 thốn, 5 phân. Một xích ngày xưa dài lối hơn 30 phân tây. Ba con số đó là số thiên đạo, là số ngày trong năm. Bề ngang nhỏ 4 thốn hạp với 4 mùa. Bề ngang lớn 8 thốn là 8 hướng gió. Đáy đàn có 2 lỗ hình chữ nhật gọi là long trì, phụng trì (ao rồng, ao phụng). Ao rồng dài 8 thốn, ao phụng dài 4 thốn. Đàn có 5 dây tượng trưng cho ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), hay ngũ tạng (tâm, can, tỳ, phế, thận), ngũ sắc (xanh, đỏ, trắng, vàng, đen). Đàn có 13 chỗ nhấn dây được ghi bằng ốc xà cừ. 13 là con số tháng của những năm có tháng nhuận. Khảy đàn bằng ba ngón của bàn tay mặt. Nhấn dây bằng 4 ngón của bàn tay trái.
Đàn cầm là đàn của Dự Bá Nha khi xưa gảy cho Chung Tử Kỳ nghe. Sau khi Tử Kỳ qua đời, Bá Nha đập vỡ đàn vì không còn ai tri âm. Đàn cầm cũng là đàn của Tư Mã Tương Như đàn cho Trác Văn Quân nghe.
Đàn sắt, theo tương truyền cũng do Phục Hy chế ra, lớn hơn đàn cầm. Đàn có 50 dây căng trên 50 con nhạn. Vua Huỳnh Đế bỏ bớt 25 còn lại 25 dây chia ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm 5 dây. 5 dây ở giữa đàn gọi là quân huyền, dây của nhà vua, và sơn màu vàng.
Khánh là một tảng đá đẽo theo hình thước thợ và treo trên giá, dung dùi gỗ mà gõ.

Ống sanh làm bằng bầu, sau này bình của ống sanh được làm bằng gỗ. Có 13 hoặc 17 ống sậy, cắm chung quanh miệng bầu, trong mỗi ống có lưỡi gà. Mỗi ống sậy có lỗ. Bấm ngón tay vào lỗ thì lưỡi gà run và có tiếng “giống như tiếng chim phượng gáy”. Tương truyền rằng ống sanh do bà Nữ Oa chế ra. 17 ống sậy cắm vào bình giống như cánh chim phượng.
Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên thì Khổng Tử sinh trong một gia đình nghèo, vào năm 551 trước Tây lịch, tại nước Lỗ (ngày nay thuộc tỉnh Sơn Đông). Tư Mã Thiên có ghi rằng năm 27 tuổi, Khổng Tử học đàn cổ cầm với thầy Tương Tử. Sách Lễ Ký có đoạn: năm ngày sau khi mãn đại tang của mẹ, Khổng Tử lấy đàn cầm ra đàn, mà lên đàn chẳng êm dây. Ý nói lòng còn chưa nguôi xúc động vì tang mẹ. Sử cũng chép rằng Khổng Tử mất mẹ năm 528 trước Tây lịch, tức lúc ngài 23 tuổi. vậy không phải năm 27 tuổi ngài mới “bắt đầu học” như Tư Mã Thiên đã viết. Khổng Tử rất thích đàn cầm. Đi đâu, xa, gần cũng đem đàn theo, và thường khi đàn cho học trò nghe và giảng cho học trò biết những cái hay của tiếng đàn cầm.
Sách Luận ngữ có ghi lại hai lần về cây đàn sắt. Một hôm có người muốn gặp Khổng Tử. Ngài không muốn tiếp người khách ấy nên học trò ra nói:“Thầy hôm nay không được khỏe”. Nhưng khi khách vừa bước ra thì Khổng Tử ca và tự đệm đàn sắt.
Một hôm khác, Khổng Tử chợt nghe tiếng đàn sắt của Tử Lộ, bèn nói với các môn sinh: “Lạ quá! Trong trường ta dạy chữ Hòa mà sao tiếng đàn của Do (tên của Tử Lộ) lại có tánh cách sát phạt, không đúng với lời ta dạy”. Môn sinh tìm Tử Lộ nói lại lời phê bình của thầy, mới biết Tử Lộ đang đàn bỗng thấy một con mèo rình bắt chuột. Do đó tiếng đàn có vẻ sát phạt. Khổng Tử chẳng những biết đờn mà còn biết nghe đàn nên nhận ra ngay sự giao động trong tâm của người đờn.
Sách Lễ Ký có ghi rằng 10 ngày sau khi mãn tang mẹ, Khổng Tử lấy ống sanh ra thổi thì nghe tiếng rất êm. Nhắc lại 5 ngày trước muốn đàn cầm mà đàn không êm dây. Tiếng ống sanh như tiếng chim phượng. Ống sanh sau được dùng phụ họa theo bài tán trong Phật giáo Trung Hoa. Tiếng sanh cũng dùng trong dàn nhã nhạc đời Đường. Trong Văn miếu, khi làm lễ có 6 ống sanh thổi. Hai bên tả hữu bàn thờ của Khổng Tử mỗi bên có 3 ống sanh. Ống sanh cũng có mặt trong dàn Gagaku (Nhã nhạc) của Nhật.
Sách Luận Ngữ có ghi lại chuyện Khổng Tử đang ở nước Vệ, một hôm thử gõ khánh. Có người đi ngang dừng chân, nghe tiếng khánh và nói: “Người gõ khánh có lòng, có chí lớn”. Thường thì đàn biên khánh có 16 phiến khánh đá treo trên giá để đánh theo tiếng nhạc đại lễ cùng với tiếng biên chung, của một giàn 16 chuông nhỏ.
Khổng Tử biết ca và từng ca với những người khác. Luận Ngữ có đoạn “khi Khổng Tử nghe người ta ca, bảo lặp lại lời ca và Phu tử cùng ca với họ”.
Cũng trong Luận Ngữ có đoạn ghi lại việc Khổng Tử chấn chỉnh âm nhạc tại nước Lỗ, là nơi ngài đã chào đời. Vua nước Tề hiến cho vua nước Lỗ 80 ca nhi nữ nhạc. Vua nước Lỗ mải mê nghe ca mà ba ngày không triều chính. Khổng Tử không chịu được nên rời nước Lỗ ra đi. Trước khi lên đường, có đặt một bài ca, và ca cho một ông thầy dạy nhạc tại nước Lỗ nghe. Bài ca đó có ghi lại trong Sử ký của Tư Mã Thiên mà Edouard Chavennes đã dịch ra tiếng Pháp. Tôi tạm dịch ra tiếng Việt như vầy:
- Miệng của ca nhi đuổi ta xa nước Lỗ
Họ đến đây gây tang tóc điêu tàn
Từ nay ta cất bước lang thang
Đến khi an nghỉ nơi suối vàng mới thôi.
Khổng Tử còn sang tác nhạc cho đàn cổ cầm:
Trên bao bì dĩa hát “Trung Quốc xương phiến” in tại Bắc Kinh, trong lời giới thiệu bài “U lan” có đoạn: Theo sách “Tàng xuân ổ cầm phổ” thì “Thị khúc giả Khổng Tử sở tác”. Khổng Tử đặt bản nhạc ấy khi được Chiêu vương mời hội kiến, có lẽ muốn trọng dụng Ngài. Lúc ấy Khổng Tử đang gặp khó khăn. Song không phải vì gặp cảnh khó, được mời thỉnh, mà xiêu lòng, đổi ý. Người quân tử trau dồi cái đức mà tạo con đường cho mình đi, không vì nghèo khổ mà thay đổi khí tiết. Hoa lan nở trong rừng sâu, không phải vì chẳng có ai ngắm mà mất hương thơm của nó. Do đó, Khổng Tử sáng tác bài“U lan” để nói lên khí tiết của mình.
Khổng Tử hiểu âm nhạc và có quan điểm rõ rệt về tính chất và công dụng của nhạc:
Sách Luận Ngữ chép rằng: “Tử tại Tề, văn Thiều tam nguyệt bất tri nhục vị”. Khi Đức Khổng Tử ở tại nước Tề nghe nhạc của vua Thuấn sang tác cả ngàn năm trước, xúc động quá đến nỗi suốt ba tháng không còn biết vị ngon của thịt.
Ngài thích nhạc Thiều hơn cả các loại nhạc khác: “Nhạc Thiều đẹp và êm. Điệu múa của vua Vũ đẹp mà không êm”. Nhạc Thiều êm vì lòng nhân của vua Thuấn. Điệu múa của Vũ vương không êm vì tiếng nhạc nhắc lại chiến công lập quốc, mà Khổng Tử hiếu hòa hơn chiến. Sau này trong Văn miếu, khi làm lễ chỉ dùng Văn vũ sinh với ống thược và long trỉ chớ không dùng Võ vũ sinh với mộc và búa.
Nói chung, Khổng Tử thích nhạc xưa hơn nhạc nay. Nhạc xưa là nhạc thời Văn vương, Võ vương (thế kỷ thứ XII trước Tây lịch). Nhạc nay là âm nhạc đời nhà Châu (thế kỷ thứ VI, thứ VII trước Tây lịch). Ngài đã nói trong Luận Ngữ: “Có người cho rằng về lễ nhạc, người thời xưa không được văn minh, người thời nay khôn ngoan hơn. Riêng ta, ta vẫn thích nhạc của người xưa”.
Khổng Tử trọng nội dung hơn hình thức của nhạc và lễ. Trong Luận Ngữ có ghi lại: “Tử viết: Lễ vân lễ vân. Ngọc bạch vân hồ tai. Nhạc vân nhạc vân. Chung cổ vân hồ tai”. Người ta nói đến lễ, trong lễ há không có chi hơn ngọc và lụa? Người ta nói đến nhạc, trong nhạc há không có gì hơn chuông và trống. Ngọc và lụa là hình thức bên ngoài của lễ cũng như chuông trống là hình thức bên ngoài của dĩ nhạc. Người ta thường chỉ thấy hình thức mà quên nội dung.
Nhạc tự trong lòng mà ra. Câu đầu của Nhạc ký đã ghi: “Phàm âm chi khởi, do nhân tâm sanh dã” và“Nhạc giả: Âm chi sở do sinh dã Kỳ bổn tại nhân tâm”. Âm nhạc từ lòng người mà sanh ra. Khi lòng buồn, vui, giận, kính, thương, thì tiếng nhạc tùy nơi lòng mà thành âm. “Tình động ư trung, cố hình ư thanh”.
Theo Khổng Tử, âm nhạc cốt đem đến cái “hòa”: “Nhạc dĩ hòa kỳ thanh”. Cũng có tánh chất trung dung nên ngài mới nói tiếng nhạc tốt phải “Ai nhi bất thương, lạc nhi bất dâm”. Buồn mà không quá bi lụy. Vui mà không sỗ sang thất lễ. Đâu đó có chừng mực.
Bàn về nhạc, Khổng Tử thường nhắc đến chữ hòa.
Nhạc giả thiên địa chi hòa dã”. Âm nhạc là sự hòa hợp giữa trời đất.
“Lễ tiết nhân tâm. Nhạc hòa dân tâm”. Lễ làm cho lòng dân có trật tự. Nhạc làm cho lòng dân có hòa khí.
Âm nhạc có thể thay đổi phong tục - có ẩn nghĩa là từ cái xấu chuyển thành cái tốt - “Nhạc khả dĩ di phong dịch tục”.
“Nhạc giả dã: Thánh nhân chi lạc dã, khả dĩ thiện dân”. Nhạc là niềm vui của thánh nhân và có thể khiến cho dân hiền lành hơn.
“Đức giả tánh chi đoan dã. Nhạc giả đức chi hoa dã”. Nhạc phải là tinh hoa của đạo đức.
Âm nhạc phản ánh xã hội và là một yếu tố quan trọng trong việc trị dân.
Xã hội có trật tự, tiếng nhạc vui vẻ, ôn hòa. Xã hội vô trật tự, tiếng nhạc phẫn nộ, oán hờn.
Dân mất nước tiếng nhạc buồn thảm và lo lắng. “Vong quốc chi âm, ai dĩ tư”.
Theo Khổng Tử, âm nhạc do xúc cảm trong lòng sanh ra. Ai biết được bí quyết của âm nhạc tức là biết cái bí quyết làm giao động lòng người. Ai biết được bí quyết làm giao động lòng người tức là biết bí quyết dẫn dắt con người. Ai biết được bí quyết dẫn dắt con người là biết được bí quyết cai trị con người. Và kết luận: Chỉ có bậc minh quân mới có quyền tạo nhạc.
Khi Tử Hạ hỏi Khổng Tử: “Phải có đức tính gì mới đáng gọi là cha mẹ dân?”. Khổng Tử trả lời:“Phải có nhiều đức tính tốt, nhưng trước tiên phải biết căn bản của lễ, nhạc mới đáng gọi là cha mẹ dân”.
Khi Tử Lộ hỏi thầy về đức tánh của một người quân tử, Khổng tử cũng trả lời rằng phải có nhiều đức tính tốt, nhưng trước hết phải biết trau giồi lễ nhạc.
Khổng Tử đã dạy rằng muốn cho nước được an, thì vua phải dùng lịch của nhà Hạ, phải đội mão của nhà Chu, phải cho đánh nhạc Thiều của vua Thuấn, mà loại bỏ nhạc của nước Trịnh.
Khi Tử Trương hỏi thầy về cách trị nước, Khổng Tử trả lời: “Ta đã nói việc ấy bao lần rồi. Một vương giả chỉ cần biết rành lễ và nhạc và đem ra mà dùng đúng chỗ là được”.
Khổng Tử đã giảng rất rành mạch cho Tân Mâu Giã, một nhạc sư thời bấy giờ, nghe ý nghĩa sâu xa của các điệu múa văn, múa võ của thời xưa. Tân Mâu Giã phải nhìn nhận rằng Khổng tử biết thấu đáo và chính xác ý nghĩa sâu của lễ nhạc thời xưa.
Khổng Tử rất quan tâm đến việc giáo dục âm nhạc.
Sách Lễ Ký còn ghi lại những chương trình dạy nhạc do Khổng Tử sắp đặt. Chúng tôi xin ghi lại vài điều:
Lễ, nhạc là hai môn rất quan trọng. Bắt đầu dạy học từ cấp tiểu học thì tuần tự phải dạy “lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số”. Lễ trước, kế đến âm nhạc, rồi học bắn cung, cỡi ngựa rồi mới đọc sách và cuối cùng mới học toán.
Trong các trường lớn, lễ và nhạc dạy trong mùa xuân và mùa thu vì trong hai mùa ấy khí hậu ôn hòa, học múa không thấy mệt. Mùa hạ và mùa đông dạy thi ca và sử.
Cuối thàng chót của mùa xuân, có một buổi hòa nhạc lớn. Vua và cà triều thần đều đến dự.
Tháng thứ nhì của mùa hè, học sinh học sửa trống, lên dây đàn cầm, đàn sắt, thử ống quản, ống tiêu. Cũng phải học sửa lưỡi gà của ống sanh, rửa chuông và lau khánh.
Khổng Tử với việc dùng nhạc hay không dùng nhạc cho đám cưới, đám tang.
Sách Lễ ký có ghi lại lời của Khổng Tử dặn: Gia đình cô dâu phải đốt nến trong ba đêm liền không để tắt, để ghi nhớ sự chia ly của cô dâu với gia đình của mình. Gia đình chú rể thì không được tấu nhạc trong ba hôm. Câu “Hôn lễ bất dụng nhạc” ghi rõ rang, nhưng trong dân gian, thường trong đám cưới đều có dùng nhạc.
Cũng theo qui định, khi một đại thần qua đời, vua không được ăn thịt, và sau lễ than khóc, không được tấu nhạc. Lúc tẩn liệm cũng không được tấu nhạc.
Về việc tấu nhạc theo bốn mùa thì sách Lễ ký có ghi: Bạn đến nhà, khi đón mừng nên tấu nhạc. Nhưng khi bạn từ giã thì không được tấu nhạc. Do đó, mùa xuân đến, nghinh xuân tấu nhạc. Mùa thu đến, lòng người buồn vì mùa hè đi nên không tấu nhạc.
Khổng Tử cho rằng giáo dục âm nhạc rất quan trọng, nên ngài nói khi đến một nước nào thấy dân lễ độ, hào hiệp, hiền lành, đạo đức thì biết rằng trong nước đó, dân được dạy dỗ theo lễ, theo nhạc.
Kết luận:
Khổng Tử là một nhạc sĩ lớn trong thời đại của ngài.
Nhạc ký có câu: “Tri thanh nhi bất tri âm, cầm thú thị dã; tri âm nhi biết tri nhạc, chúng thứ thị dã; duy quân tử vi năng tri nhạc”. Biết tiếng động mà không biết tiếng nhạc là hạng cầm thú. Biết tiếng nhạc mà chưa biết được nhạc là người thường trong dân dã. Chỉ có người quân tử mới biết được nhạc. Vậy Khổng Tử là quân tử trong giới nhạc.
Lại có câu: Biết nhạc đến dạy được nhạc là hiền nhân. Biết nhạc đến sáng tác được nhạc là “thánh nhân”.
Theo nghĩa đó, Khổng Tử có thể được coi là ông thánh âm nhạc của Trung Hoa thời thượng cổ.
Theo cách xếp loại của người Trung Hoa thì có 8 loại nhạc cụ, nhạc khí: Kim, thạch, ti, trúc, cách, mộc, bào, thổ tức là chuông bằng kim khí, khánh đá loại thạch; đàn cầm đàn sắt dây tơ thuộc ti; sáo, địch, tiêu bằng tre thuộc về trúc; trống mặt da thuộc loại cách; chúc, ngữ hai loại gõ bằng gỗ thuộc mộc; ống sanh có quả bầu thuộc bào; và ống huân bằng đất nung thuộc thổ.
Và để kết luận, xin mượn lời của Mạnh Tử nói về Khổng Tử: “Khổng Tử như một bản nhạc lớn, trong đó có đủ cả bát âm”.
Link nội dung: https://aicschool.edu.vn/khong-tu-noi-a95247.html