Cuốn sách “Dòng tranh dân gian Đông Hồ” (sau đây xin viết tắt là DTDGĐH) của nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Hòa (chủ biên), Trịnh Sinh, Lê Bích do Nhà xuất bản Thế giới và Bảo tàng Gốm sứ Hà Nội phối hợp xuất bản năm 2019. Cùng với cuốn: “Dòng tranh dân gian Kim Hoàng”, bộ sách này đã đạt giải B Giải Sách Quốc gia lần thứ 3 năm 2020.
Sách DTDGĐH dày 232 trang, với 513 bức ảnh trong đó có gần 300 bức tranh Đông Hồ. Ngoài lời nói đầu, sách được chia thành 3 chương: Chương I: Làng Đông Hồ, Chương II: Các dòng tranh dân gian sản xuất tại Đông Hồ, và chương III: Tranh dân gian khắc gỗ và vẽ tay. Ở chương I các tác giả khảo cứu khá kỹ về lịch sử làng Đông Hồ, các ngôi đình, ngôi chùa, ngôi đền trong làng. Bia đá sau đình, bia đá trong khu mộ tổ dòng họ Nguyễn Đăng… rất công phu. Chương II phân ra các mục Tranh đồ thế; Tranh trổ - là những loại tranh ít được nhắc đến trên báo chí, truyền thông. Theo đánh giá của T.S. Trần Đoàn Lâm (Giám đốc Nhà xuất bản Thế giới): “Cuốn DTDGĐH như một bảo tàng thâu tóm được kỹ thuật, tinh hoa của dòng tranh dân gian độc đáo nhất Việt Nam. Qua từng trang sách có thể thấy được quá trình phát triển của làng tranh Đông Hồ, thấy được nghệ thuật dân gian vô cùng sống động. Bởi vậy, DTDGĐH xứng đáng là một tài liệu quý, đáng tin cậy, nhất là với những ai muốn tìm hiểu về lịch sử của làng tranh và tranh Đông Hồ” (trích trong bài “Làm “sống lại” dòng tranh Đông Hồ” tác giả Khôi Nguyên - Thời báo Ngân hàng ngày 26/08/2019). Chúng ta đã biết nghề làm tranh dân gian Đông Hồ đã được công nhận là di sản văn hoá quốc gia và đã được làm hồ sơ đệ trình Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) xem xét đưa vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Với ý nghĩa đó chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu kỹ hơn nữa dòng tranh này sẽ giúp chúng ta bảo vệ, giữ gìn được những tinh hoa của dòng tranh, làm lan toả nó ra khắp nơi trên thế giới. Ưu điểm của cuốn sách là rất lớn, xin không nhắc lại nữa, bài viết này chỉ đi sâu vào phân tích, góp ý những chỗ mà chúng tôi cho rằng cần nghiên cứu kỹ hơn. Xin đi ngay vào trọng tâm cuốn sách là chương 3: Tranh dân gian khắc gỗ và vẽ tay.
1. Những vấn đề nên xem lại 1.1. Tranh 234. Bà Nguyệt, tranh 235. Ông tơ:
1.2.Tranh 281. Trần Hưng Đạo. Anh hùng chống quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ 13.
1.3. Tranh 306. Con trẻ với Lộc (hươu) Chữ trên tranh:“Trẻ con và hươu”
2.Một số đoạn văn trích nhưng không dẫn nguồn. 2.1.Tranh 317. “Kê cúc (gà trống bên cây cúc). Chú gà trống hùng dũng, một chân gân guốc choãi (nguyên bản là chữ “xoạc”) ra, chân kia bám vào tảng đá, vươn mình lên như sắp gáy-mà cũng như sắp bước vào một trận quyết chiến”. 2.2. Tranh 318-319. Gà thư hùng. “Một gia đình gà gồm gà trống, gà mái và đàn con. Trên tranh có dòng chữ nôm “Lắm con nhiều cháu, giống cánh giống lông”- một lời chúc thật sâu sắc! (Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh)… Gà mái có bố cục theo đường xoắn ốc tạo nên sự mềm mại (nguyên bản là “sự nũng nịu”). Gà trống được đặt trong một hình thang, đáy lớn nằm trên - tạo nên tư thế chủ gia đình, che chở cho gà mái và đàn con. Bức tranh gợi không khí hạnh phúc, đầm ấm trong một gia đình”. 2.3. Tranh 336. Cóc tây múa kỳ lân. “Cách làng Đông Hồ chừng 1km có một đồn Tây (hiện nay mấy cái lô cốt vẫn còn). Lính Tây thường từ đây đi lùng sục vào các làng nhũng nhiễu dân chúng. Thế nhưng những dịp tết Tây chúng lại tổ chức hội hè có cả các trò chơi cổ truyền của ta như Múa lân, Rước rồng, và cả những trò chơi mới như Leo cột mỡ, Liếm chảo… Cụ đồ Long đã sáng tác các bức: “Cóc Tây múa kì lân”, “Chuột Tàu rước rồng vàng”. Cóc và chuột là những con vật trong tranh cổ Thầy đồ cóc và Đám cưới chuột nay được gán cho Tây, Tàu!” Ba đoạn văn in nghiêng trong ngoặc kép ở trên, đều trích của Phùng Hồng Kổn trong các bài “Chữ trên tranh Đông Hồ” đăng trên Tạp chí Mỹ thuật số 32 tháng 2 năm 2001; “Phương ngôn trên tranh Đông Hồ” đăng trên Tạp chí Xưa và Nay số 107 tháng 1 năm 2002; “Gà lợn trong tranh Đông Hồ” đăng trên Tạp chí Thế giới trong ta số 464 tháng 1 năm 2017. Tất cả các nội dung đó cũng được đăng trên Phungkon’blog (và đã có nhiều trang mạng chia sẻ). 3. Triết lý âm dương trong tranh Đông Hồ. (Mục 3. này là quan điểm riêng của người viết bài, bạn đọc và các tác giả sách DTDGĐH tham khảo). Người việt yêu thơ hẳn ai cũng nhớ câu thơ của thơ Hoàng Cầm: “Mẹ con đàn lợn âm dương, chia lìa đôi ngả. Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã, bây giờ tan tác về đâu? ” Từ xa xưa, con người ở phương Đông qua trải nghiệm cuộc sống đã đúc rút ra triết lý âm dương. Ban đầu là những khái niệm rất cụ thể: Giống cái-âm, giống đực-dương, đất-âm (biểu tượng là hình vuông), trời-dương (biểu tượng là hình tròn), dần dần người ta đã tìm ra nhiều cặp đối lập phổ biến khác: Phía bắc lạnh-thuộc âm, phía nam ấm-thuộc dương; mùa đông-ấm, mùa hạ-dương; đêm-âm, ngày-dương và còn rất nhiều cặp âm dương khác: mềm-cứng; tĩnh-động; chậm-nhanh; tối-sáng… Về sau người ta lại phát hiện ra những quy luật cơ bản của nguyên lý âm dương: - Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương, trong dương có âm. - Âm và dương luôn gắn bó mật thiết với nhau, vận động và chuyển hoá cho nhau, âm phát triển đến cùng cực thì chuyển thành dương; dương phát triển đến cùng cực thì chuyển thành âm. Thuyết âm dương biến hóa không ngừng: Thái cực sinh lưỡng nghi, lương nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Lưỡng nghi là âm và dương, tứ tượng là thái âm, thái dương, thiếu âm và thiếu dương. Bát quái là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn , đoài.
Các nghệ nhân Đông Hồ đã ứng dụng lý thuyết này rất sáng tạo trong việc sáng tác mẫu tranh. Trên các con lợn trong các tranh lợn đàn, lợn độc, lợn ăn lá dáy, và cả con lợn trong tranh thổ công, táo quân, mỗi con đều có hai cái khoáy theo biểu tượng âm dương. Tranh rước trống cũng có biểu tượng đó trên mặt trống. Dưới đây là biểu tượng âm dương trên tranh Đông Hồ. Theo nghiên cứu của chúng tôi, Tranh Đông Hồ cổ, cũ luôn có đôi. Các thế hệ nghệ nhân làm tranh sau này từ các nghệ nhân Nguyễn Đăng Khiêm (1914-2022), Nguyễn Đăng Sần (1918-1982), Nguyễn Hữu Sam (1930-2016), Trần Nhật Tấn (1938-2008), Nguyễn Đăng Chế (1937) có sáng tác một số mẫu tranh nhưng chủ yếu là tranh đơn. Hai nghệ nhân Nguyễn Đăng Khiêm và Nguyễn Đăng Sần có sáng tác vài bộ tứ bình. Các nghệ nhân trẻ ở làng hiện nay cũng vậy, chỉ sáng tác tranh đơn. Như vậy việc sáng tác tranh đôi đã dừng lại (cho đến nay) ở hai nghệ nhân: Phùng Đình Năng (1912-1993) với các đôi tranh: “Văn minh tiến bộ - Thể dục trấn hưng”, “Huấn luyện bình dân học vụ” và Nguyễn Thế Lãm (1913-1978) với các đôi tranh: “Bảo vệ hoà bình - Kiến thiết quốc gia”, “Vang lừng tiếng hát tiếng hò”, “Việt Nam độc lập Bác Hồ muôn năm - Cùng nhau hát múa mấy bài , khải hoàn ngợi khúc xây đài vinh quang”. Trong một đôi, hai tranh có cùng phong cách, bố cục, màu sắc, có khi hoàn toàn đối xứng. Chữ trên tranh (có thể là thơ, là câu đối) cũng là tín hiệu để nhận ra cặp đôi của tranh. Hai tranh nếu không phải là một đôi thì cố ghép cũng không thành. Bản thân hình thức đôi tranh như vậy đã thể hiện triết lý âm dương, nội dung nhiều đôi tranh lại càng làm rõ điều này, chẳng hạn: Ông tơ-bà nguyệt (ông tơ-dương, bà nguyệt-âm; Văn trường-Võ trường (văn-âm, võ-dương); Hứng dừa-đánh ghen (hứng dừa: êm đềm, hạnh phúc-âm, đánh ghen: bất hạnh, náo động-dương); Dạ xướng ngũ canh hoà-Nhật minh tam tác thụy (đêm-âm, ngày - dương)… Cuốn sách DTDGĐH không nói gì tới triết lý âm dương. Trên bảng thống kê tranh Đông Hồ trong cuốn sách của Durand có một cột “thể thức” ghi: tranh bộ, tranh đơn; tranh đôi (nghĩa là các tác giả có thấy tranh đôi rồi, nhưng chưa khai thác sâu?). Trong sách có nhiều tranh đã được đặt cạnh nhau như “một đôi”, nhưng cũng có không ít đôi tranh bị tách ra mỗi nơi một bức. Nhiều tranh khác có đôi rất rõ ràng mà tác giả không nhận ra nên vẫn gọi nó là tranh đơn. Có một số tranh có đôi nhưng do tác giả sách chưa sưu tập được đầy đủ nên cũng gọi nó là tranh đơn. Sau đây chúng tôi xin thống kê một số tranh trong sách DTDGĐH chưa được xếp đúng đôi, bổ sung tranh còn thiếu, nếu chú thích tranh chỗ nào chưa chính xác thì chúng tôi sẽ sửa lại. 3.1.Tranh 266. Thục An Dương Vương. Cặp đôi của tranh này là bức 274. Triệu Việt Vương. Trên hai tranh có đôi câu đối: Thần long hiến đâu mâu-Linh qui tứ thần nỗ (Rồng thần hiến đâu mâu (một loại mũ của võ tướng); Rùa thiêng ban nỏ thần). Rõ ràng đây là đôi tranh, từ bố cục đến chữ nghĩa. Cùng đề tài này Đông Hồ còn có đôi tranh Vua Hùng kén rể-Truyện đẻ trăm trứng (mà sách không có). 3.2. Tranh 267. Phù Đổng Thiên Vương.
Ghi chú: chữ trên tranh Phù Đổng Thiên Vương đại phá giặc Ân (chữ nho). Trên tranh không có chữ “Phù” (đọc từ trái qua phải) - thế thì mới đối được với vế kia: Đinh Tiên Hoàng cờ lau tập trận, vế này ở tận số 279, màu không hợp đôi. Chúng tôi đưa một phiên bản khác, loại in nét rồi tô màu (một tranh ghi bằng chữ Hán hoặc Nôm một tranh ghi bằng chữ quốc ngữ thì không thể ghép thành đôi). 3.3.Tranh 268. Trưng Vương và tranh 270. Triệu Ẩu là một đôi, nên để cạnh nhau, điều chỉnh cho kích thước bằng nhau. Trên đôi tranh có câu đối: Trưng vương sát Hán tường-Triệu Ẩu trục ngô quân-rõ ràng là tín hiệu của đôi tranh. 3.4. Tranh 269. Trưng Vương trừ giặc Hán và tranh 272.Triệu Ẩu đánh quân Ngô là một đôi, nên để cạnh nhau. (tranh 272 bị thiếu chữ) 3.5.Tranh 271. Bà Triệu cưỡi voi, thiếu một vế: đối xứng sang bên phải.
3.8.Tranh 280. Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên (chữ quốc ngữ), thiếu bức Ngô Vương Quyền đánh giặc Hán (chữ quốc ngữ). Thực ra đôi tranh này là dị bản của đôi tranh 273 ở trên, thay chữ nho bằng chữ quốc ngữ.
3.9.Tranh 296.Thầy đồ cóc. Ở dưới có ghi thêm: “Thường tranh Đông Hồ có từng cặp, đăng đối nhau”. Rất tiếc là các tác giả không khai thác sâu điều đó. Cặp đôi của tranh này là tranh 332 (rất xa nhau). Chúng tôi xếp lại để bạn đọc thấy rõ.
Sách ghi chú “Chữ trên tranh: “Lão oa giảng độc” (lão oa là con cóc già, “giảng độc” là dạy học)”. Trong chữ Hán âm oa có rất nhiều chữ. Chữ trên tranh (đọc từ phải sang trái) oa: là con ốc sên. Chữ oa này: mới có nghĩa là con ếch, cóc (theo từ điển Hán Nôm online). Thế mới biết chữ nho rất khó, chúng tôi phỏng đoán, tác giả đầu tiên của mẫu tranh này, người nghĩ ra ý tưởng bức tranh thì viết đúng, nhưng trải qua nhiều năm tháng, do tam sao thất bản, hoặc do nghệ nhân cắt ván đã nhầm lẫn, nghe “Lão oa giảng độc” cứ thế đưa vào một chữ oa mà chưa tra cứu thật kỹ, dẫn đến tình trạng này. Đôi tranh này thuộc loại kinh điển của Đông Hồ, được đưa lên Tem từ thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (cùng các đôi tranh Đấu vật-Rước trống; Hứng dừa-Đánh ghen). 3.10. Tranh 307 (trang 326). Trai tài ôm cóc tía; Gái sắc bế cầu xanh. (sách đánh số nhầm tranh này là 327). Đến phần Dị bản lại xuất hiện hai đôi tranh cùng tên của hai gia đình nghệ nhân khác nhau. Nếu cứ coi tranh của mỗi nhà (phân bố màu khác nhau) là một dị bản thì tranh nào cũng có vài dị bản, thế thì cuốn sách này dầy gấp nhiều lần. Chúng tôi cung cấp một dị bản thực sự, tô màu, có câu đối nôm: Chị cả vẫn vốn giàu; Anh chiêu dòng thế đại. Nghệ nhân chơi chữ theo kiểu nói lái - rất thú vị.
3.15.Tranh 318. 319. Gà thư hùng. Đây là một đôi, nên xếp ngang nhau. 3.16. Tranh 320.Gà đàn (theo đôi). Nên xếp ngang nhau, hai con gà mẹ quay vào nhau.. 3.17.Tranh 322. Lợn ăn lá dáy. Thiếu bức đối xứng. Đôi tranh này cũng thuộc sê-ri tranh có bo rộng, kích thước tranh 11×20 cm trên khổ giấy bình thường kích thước 26×37 cm. Tranh in trong sách DTDGĐH theo bản mới bo hẹp.
3.33.Tranh 433. Nhảy đầm. Thiếu bức Đá bóng: Đây là phiên bản tô màu.
Theo Từ điển: “Cầm: Động từ: giữ trong bàn tay hoặc giữa các ngón tay. cầm bút viết; cầm xẻng; cầm tay nhau… Ôm: Động từ: vòng hai tay qua để giữ sát vào lòng, vào người: ôm eo; ôm con vào lòng; bé quàng tay ôm lấy cổ mẹ… Cưỡi: Động từ: ngồi trên lưng hoặc vai, hai chân thường bỏ sang hai bên. cưỡi ngựa; thuyền cưỡi sóng ra khơi..” 4.2.2. Cuốn sách của M.Durand nói tới nhiều dòng tranh dân gian Việt Nam, các tác giả sách DTDGĐH đã tìm ra những tranh Đông Hồ trong sách đó và lập thành “Bảng xác định tranh Đông Hồ trong sách của M.Durand” (trang55). Trong bảng đó có vài từ rất ngộ nghĩnh. - STT 93. Tên tranh “Xà tinh xuất hiện” cột thể thức ghi: Tranh bộ 5 chiếc từ 382-386. - STT 98.Tên tranh. “Lễ hội kén phò mã”, cột thể thức ghi: Tranh bộ 4 cái từ 387-390. - STT 109. Tên tranh “Các nhân vật chính”, cột thể thức ghi: Tranh bộ 4 chiếc từ 425-418 • Chiếc giày, chiếc tất, chiếc đũa… sao lại chiếc tranh? • Cái cối, cái chày, cái rổ, cái giá… sao lại cái tranh? Người ta thường gọi là tờ tranh, bức tranh hoặc chỉ một từ: Tranh. Có lẽ những nhầm lẫn trên là “lỗi đánh máy” ? Làm sách khảo cứu là việc rất công phu, đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên trì, khoa học. Một cuốn sách khá đồ sộ như thế mắc phải vài lỗi cũng là việc khó tránh, chúng tôi chân thành góp ý với các tác giả, mong được đọc sách tái bản chỉn chu hơn.
Phùng Hồng Kổn